Home » Tài Chính » Thị trường tiền tệ là gì? Đặc điểm, chức năng, mối quan hệ của nó

Thị trường tiền tệ là gì? Đặc điểm, chức năng, mối quan hệ của nó

Thị trường tiền tệ là gì? Đặc điểm, chức năng, mối quan hệ của nó
5 (100%) 2 votes

1. Thị trường tiền tệ là gì?

Thị trường tiền tệ là thị trường mà tất cả mọi người trên thế giới có thể trao đổi, mua bán,… các loại ngoại tệ khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, các bạn có thể hiểu một cách đơn giản như sau: Ở đâu có sự trao đổi, mua bán và giao dịch ngoại tệ thì ở đó chính là thị trường tiền tệ.

2. Chức năng của thị trường tiền tệ

Nhìn từ góc độ người đi vay, là nhằm bù đắp chênh lệch giữa cung và cầu vốn khả dụng. Tài trợ các nhu cầu về vốn lưu động của các doanh nghiệp và chính phủ (phục vụ cho tái sản xuất giản đơn là chủ yếu).==>trọng tâm là cung cấp phương tiện giúp cá nhân và doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh tình hình thanh khoản thực của họ theo số lượng tiền mong muốn.

3. Những đặc điểm của thị trường tiền tệ

  • Thị trường tiền tệ tồn tại trong các phòng giao dịch trong các ngân hàng thường mại và ngân hàng trung ương trên thế giới.
  • Thị trường tài chính chủ yếu mua bán những công cụ tài chính có thời gian đáo hạn dưới 12 tháng trở xuống.
  • Thị trường này có tính toàn cầu hóa cho nên hình thức giao dịch của nó thông qua mạng là chính.
  • Thị trường tiền tệ không có quy định, không bị giám sát của bất kỳ những cơ quan, tổ chức nào.
  • Những nghiệp vụ cơ bản trên thị trường tiền tệ: quyền chọn kỳ hạn, đáo hạn, hoán đổi,… bên cạnh đó còn có những nghiệp vụ khác.
  • Giai đoạn luân chuyển vốn ngắn hạn (không quá một năm). Công cụ của thị trường tiền tệ là các khoản vay hay các chứng khoán đáo hạn trong vòng một năm.
  • Hình thức tài chính đặc trưng là hình thức tài chính gián tiếp. Đóng vai trò trung gian tài chính giữa người vay và người cho vay là các ngân hàng thương mại.
  • Các công cụ của thị trường tiền tệ có tính thanh khoản cao, cung cấp lợi tức tiết kiệm cho các nhà đầu tư.

4. Mối quan hệ giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Thị trường tiền tệthị trường vốn là hai bộ phận cấu thành nên thị trường tài chính, cùng thực hiện một chức năng là cung cấp vốn cho nền kinh tế. Do đó, các nghiệp vụ hoạt động ở trên hai thị trường này có mối liên quan bổ sung và tác động tương hỗ với nhau.

Lãi suất trên thị trường tiền tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường vốn. Nếu lãi suất các ngân hàng trả cho người tiết kiệm cao, điều này sẽ khiến cho người tiết kiệm thích gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi suất cao và rủi ro thấp, hơn là mua chứng khoán. Mặt khác, những biến đổi về giá cả và lãi suất trên thị trường tiền tệ thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn như quan hệ cung cầu và giá cổ phiếu, trái phiếu. Chẳng hạn như một số chứng khoán dài hạn có lãi suất thả nổi, căn cứ để điều chỉnh lãi suất là lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng. Hay khi định giá cổ phiếu hoặc trái phiếu tại một thời điểm nào đó trên thị trường, người ta phải tham khảo lãi suất của ngân hàng được hình thành trên thị trường tiền tệ. Giữa lãi suất thị trường và giá trái phiếu có mối quan hệ nghịch với nhau: khi lãi suất của ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, trái phiếu sẽ sụt giảm và tình hình ngược lại khi lãi suất ngân hàng hạ thấp hơn lãi suất trái phiếu.

Ngược lại, các thay đổi về chỉ số giá cổ phiếu của thị trường vốn cũng phản ánh các hiện tượng tốt hay xấu, đã đang hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ.  Đối với thị trường vốn, việc duy trì một lãi suất ổn định không thăng trầm quá đáng là cần thiết cho sự ổn định của thị trường.

Trên thực tế, các hoạt động của thị trường tiền tệthị trường vốn được thực hiện đồng bộ xen lẫn nhau, tác động và chịu ảnh hưởng của nhau, tạo thành cơ cấu hoàn chỉnh của một thị trường tài chính.

Việc phân định các bộ phận của thị trường tài chính chỉ là biện pháp để tạo thuận lợi cho quá trình nghiên cứu của từng loại thị trường, như một khái niệm kinh tế tồn tại độc lập và ly khai ra khỏi các mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành của nó.

Trên thực tế, không phải dễ dàng có thể chỉ ra đâu là khu vực chuyên môn hóa của thị trường tiền tệ và đâu là khu vực chuyên môn hóa của thị trường vốn. Hai thị trường này có mối quan hệ hữu cơ khắng khít với nhau. Các biến đổi (về giá cả, lãi suất) trên thị trường tiền tệ diễn ra thường kéo theo các biến đổi trực tiếp trên thị trường vốn. Ngược lại, các thay đổi (về chỉ số chứng khoán hoặc giá trị cổ phiếu) của thị trường vốn cũng phản ánh các hiện tượng tốt xấu đã và đang, hoặc sẽ xảy ra trên thị trường tiền tệ. Các chính sách của nhà nước như chính sách lãi suất, tiền tệ với mục đích phát triển thị trường tiền tệ đồng thời cũng là các yếu tố ngăn cản phạm vi hoạt động của thị trường vốn. Xét trong tương lai, xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế, không thể tồn tại một thị trường tiền tệ thuần túy cũng như không thể có một thị trường vốn thuần túy, mà sẽ tồn tại một thị trường tài chính hỗn hợp.

5. Các công cụ lưu thông trên thị trường tiền tệ

  • Tín phiếu kho bạc (Treasury Bills)

Đây là loại chứng khoán nợ ngắn hạn do Nhà nước phát hành nhằm mục đích điều hòa lưu thông tiền tệ, hỗ trợ cho việc cân đối thu chi ngân sách, bù đắp những thiếu hụt tạm thời hoặc mục đích chống lạm phát hay khuyến khích phát triển sản xuất.

Đặc điểm của loại chứng khoán ngắn hạn là thời gian đáo hạn dưới một năm, lãi và vốn được trả một lần khi đáo hạn.

  • Các khoản vay liên ngân hàng

Theo quy định của ngân hàng trung ương, các tổ chức nhận tiền gửi phải có một tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đáp ứng nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền. Một số tổ chức có thể thừa dự trữ, một số khác lại thiếu. Các tổ chức nhận tiền gửi có thể mua bán các khoản dự trữ này trên thị trường liên ngân hàng; bằng cách này có thể tối thiểu hóa được lượng tài sản có tính thanh khoản cao nhưng khả năng sinh lời thấp, như tín phiếu kho bạc.

  • Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng

Đây là giấy bảo đảm rằng một ngân hàng sẽ thanh toán vô điều kiện số tiền mà các nhà nhập khẩu còn thiếu các nhà xuất khẩu, đến ngày đáo hạn mà nhập khẩu sẽ trả cho ngân hàng số tiền ghi trên giấy  cộng với một khoản phí. Nhà xuất khẩu không nhất thiết phải giữ giấy này cho tới khi đáo hạn mà có thể bán đi với giá chiết khấu để thu tiền trước. Lãi suất của công cụ này tương đối thấp do tính an toàn cao.

  • Kỳ phiếu thương mại (Commericial Papers)

Kỳ phiếu thương mại sẽ do doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phát hành dùng thay thế cho giấy nợ trả cho các đơn vị hoặc cá nhân cung cấp hàng hóa hay dịch vụ cho doanh nghiệp. Trong thương phiếu có quy định thời hạn trả nợ và lãi suất đến kỳ hạn sẽ được đơn vị trả cả vốn lẫn lãi.

  • Kỳ phiếu ngân hàng (Bank Bills), Tín phiếu công ty tài chính, Chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm

Đây là các loại chứng khoán ngắn hạn thường từ 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng đến 12 tháng, được ngân hàng thương mại và công ty tài chính phát hành nhằm huy động vốn, rồi dùng vốn đó cho vay (chủ yếu là ngắn hạn).

Các bài có thể xem:  Khái niệm và đặc điểm thẻ thanh toán ngân hàng , Quy trình cho vay khách hàng cá nhânCác hình thức cho vay khách hàng cá nhânTìm hiểu chiêu thi – promotion trong marketingTìm hiểu sensory marketing các nhân tố ảnh hướng đến văn hóa doanh nghiệp.mã hóa là gì

Hiện tại chúng tôi cung cấp các dịch vụ:

+ Thuê viết luận văn thạc sĩ

+ Dịch vụ viết assignment

+ Dịch vụ spss

Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay nhé!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*