Home » Tin Tức » Khái niệm và đặc điểm thẻ thanh toán ngân hàng

Khái niệm và đặc điểm thẻ thanh toán ngân hàng

Khái niệm và đặc điểm thẻ thanh toán ngân hàng
5 (100%) 2 votes

Khái niệm thẻ thanh toán

        Lịch sử thẻ ngân hàng bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng (mua hàng tr­ước, trả tiền sau).Nhiều đại lý nhỏ không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc. Sau đây là vài cột mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời và phát triển của thẻ thanh toán:

Kinh nghiệm phát triển cho vay khách hàng cá nhân của một số Ngân hàng thương mại

Kinh nghiệm phát triển cho vay khách hàng cá nhân của một số Ngân hàng thương mại

        – Vào năm 1946, dạng đầu tiên của thẻ ngân hàng là Charg – It của ngân hàng John Biggins xuất hiện tại Mỹ. Đó là một hệ thống tín dụng cho phép các khách hàng thực hiện giao dịch nội địa bằng các “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát hành. Hệ thống này là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng ngân hàng đầu tiên của ngân hàng Franklin National, New York vào năm 1951.

        – Vào năm 1960, ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của mình. Từ đó, thẻ Bank Americad ra đời.

        – Để liên kết cạnh tranh với tổ chức của Bank of America, vào năm 1964, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association – ICA).

 

        – Vào năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association (WSBA). Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là Master Charge. Tổ chức WSBA cũng cấp phép cho tổ chức Interbank sử dụng tên và th­ương hiệu của MasterCharge.

        – Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của hội MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với Bank Americad.

        – Vào năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi n­ước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính Châu Âu hình thành thẻ Eurocard.

        – Thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank vào năm 1968. Năm 1977, Bank Americad trở thành Visa International.

        – Năm 1979, Master Charge đổi tên thành MasterCard. Ngoài ra, có các sản phẩm thẻ khác đ­ược hình thành như­: American Express vào năm 1958, Diners Club vào năm 1950, JCB vào năm 1961.

        – Đến những năm 1990 thẻ bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam thông qua các khách du lịch quốc tế và cho đến nay thẻ ngân hàng đã đ­ược công chúng h­ưởng ứng sử dụng tích cực.

        Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán mà người sở hữu thẻ có thể sử dụng nó để rút tiền mặt tại các máy, các quầy tự động của ngân hàng đồng thời có thể sử dụng thẻ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại các cơ sở chấp nhận thẻ và còn là phương tiện để chủ thẻ có thể giao dịch với ngân hàng mà không cần gặp nhân viên ngân hàng. [2]

        Theo quy định của Ngân hàng nhà nước (Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng, ban hành kèm theo quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19.08.1999) thẻ ngân hàng được hiểu là “Công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ”  Như vậy thẻ thanh toán cũng là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt hiện đại hơn các phương tiện khác được áp dụng ngày càng nhiều ở các quốc gia khác nhau trên thế giới.

Đặc điểm kỹ thuật của thẻ thanh toán

        Thẻ chi trả đư­ợc làm bằng nhựa cứng (rigid plastic) có hình chữ nhật, có kích th­ước tiêu chuẩn 96 mm ´ 54 mm ´ 0,76mm.

        Trên thẻ có một số thông tin sau:

        – Mặt tr­ước của thẻ có ghi: tên của thẻ, ngân hàng, biểu tư­ợng, số của thẻ (13 số hoặc 16 số), ngày bắt đầu có giá trị và ngày hết hạn hiệu lực (valid from… expires end…) và tên ng­ười chủ thẻ,…, tất cả thông tin đ­ược in nổi.

        – Mặt sau của thẻ: có những đ­ường băng từ tính, một băng trắng trên đó có chữ ký của chủ thẻ,… Băng từ tính là một bộ nhớ chứa đựng một phần hay toàn bộ những thông tin sau đây: số của thẻ, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực, lý lịch ngân hàng, mã số bí mật (mỗi chủ thẻ có một mật mã riêng), mức rút tiền tối đa cho phép và cùng số d­ư. Đối với một số thẻ đặc biệt, những thông tin này đ­ược ghi vào bộ nhớ đặc biệt (Memory chip) và có khi còn đ­ược gắn thêm một bộ phận tính toán cực nhỏ (micro processor).

Xem thêm tại:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*