Home » Tin Tức » Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế
Rate this post

Những khái niệm cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế. Nội dung cơ bản kinh doanh lữ hành quốc tế. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động kinh doanh lữ hành

Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Những lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Kinh doanh lữ hành quốc tế là loại kinh doanh lữ hành mà đối tượng của nó là khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài.  

1. Những khái niệm cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

1.1. Khái niệm về du lịch và khách du lịch

1.1.1. Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến và nó được coi là một trong những ngành kinh tế lớn nhất thế giới. Đối với một số quốc gia, du lịch là ngành kinh tế hàng đầu và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất. Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của loài người và ngày càng phát triển lớn mạnh, do vậy cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về du lịch.

Tổ chức du lịch thế giới ( World Tourism Organization – WTO) đã đưa ra một khái niệm thống nhất về du lịch. Trên phương diện xem xét du lịch là một ngành công nghiệp không khói hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, WTO cho rằng “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng, và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình và hợp tác. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.

Định nghĩa của hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991 : “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”.

Dưới góc độ kinh tế học, nhà kinh tế học người Mĩ Miechael Coltman đã định nghĩa : “ Du lịch là một ngành kinh tế – xã hội phức tạp, phát sinh các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế có tính tương tác giữa bốn nhóm thành phần là khách du lịch, nhà kinh doanh du lịch, dân cư địa phương và chính quyền địa phương tại điểm du lịch”

Trong pháp lệnh du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ “ du lịch” được giải thích hiểu như sau: “ du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”.

Như vậy, du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm một ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá- xã hội. Ngành du lịch được định nghĩa một cách đơn giản là một ngành, một bộ phận của nền kinh tế, có chức năng phục vụ nhu cầu của khách du lịch.

Để tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch, đòi hỏi phải có các loại hình kinh doanh du lịch tương ứng. Hiện nay, trong ngành du lịch hình thành và phát triển 5 ngành nghề kinh doanh chính:

– Kinh doanh lữ hành

– Kinh doanh vận chuyển khách du lịch

– Kinh doanh lưu trú và ăn uống du lịch

– Kinh doanh phát triển khu du lịch, đIểm du lịch

– Kinh doanh dịch vụ du lịch khác

1.1. 2. Khái niệm về khách du lịch

Hội nghị quốc tế về du lịch tổ chức tại Roma năm 1963 đã đưa ra một số khái niệm như sau:

Lữ hành (Traveller): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó với những mục đích khác nhau và quay trở lại.

Khách tham quan (Excursionist): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, với những mục đích khác nhau, trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu trú ở nơi đến không quá 24h ( hoặc không sử dụng bất cứ một tối trọ nào).

Khách viếng thăm (Visitor): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó và quay trở lại với mục đích khác nhau; trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến.

Khách du lịch (Tourist): là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó và quay trở lại, với những mục đích khác nhau, trừ mục đích làm công nhân thù lao ở nơi đến; thời gian lưu trú 24h trở lên ( hoặc có sử dụng một tối trọ ) và không quá một khoảng thời gian ( được quy định tuỳ từng quốc gia).

Trong đó, khách du lịch được chia làm ba loại khác nhau là khách nội địa, khách đi du lịch nước và khách nước ngoài đến Việt Nam.

Khách du lịch nội địa (Interal Tourist): Công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang cư trú tại quốc gia đó đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó.

Khách đi du lịch nước ngoài (Outbound Tourist) : Công dân của một quốc gia và những người nước ngoài đang sinh sống tại quốc gia đó đi ra nước ngoài du lịch.

Khách du lịch nước ngoài đến ( Inbound Tourist): người nước ngoài và người của một quốc gia nào đó định cư ở nước ngoài vào quốc gia đó đi du lịch.

1.2. Khái niệm về lữ hành và dịch vụ lữ hành

1.2.1. Lữ hành (Travel):

Bao gồm tất cả những hoạt động di chuyển của con người cũng như những hoạt động liên quan đến sự di chuyển đó. Với một phạm vi đề cập như vậy thì trong hoạt động du lịch có bao gồm yếu tố lữ hành. Nhưng không phải tất cả hoạt động lữ hành là du lịch. Ví dụ như hoạt động kinh doanh của một công ty hàng không, đối tượng khách hàng không chỉ là khách du lịch mà còn là nhà ngoại giao, thương gia,…Vì vậy người ta có thể dùng thuật ngữ “lữ hành du lịch” để chỉ các hoạt động đi lại và các hoạt động khác có liên quan tới các chuyến đi với mục đích du lịch.

Để phân biệt hoạt động kinh doanh lữ hành với các hoạt động kinh doanh du lịch khác như kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng, vận chuyển hành khách,…người ta giới hạn hoạt động kinh doanh lữ hành chỉ bao gồm những hoạt động tổ chức các chương trình du lịch.

Luật Du lịch Việt Nam định nghĩa: “ Lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện một phần hay toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch”.

1.2.2. Đặc điểm của dịch vụ Lữ hành

Dịch vụ lữ hành cũng giống như các loại hình kinh doanh dịch vụ khác, nó mang những đặc đIểm chung đó là:

Dịch vụ lữ hành mang tính vô hình, phi vật chất

Dịch vụ lữ hành không phải là thứ cân đong đo đếm, sờ, nếm thử để kiểm tra, lựa chọn trước khi mua mà người ta phải tiêu dùng nó thì mới có được sự cảm nhận.Và dịch vụ lữ hành cũng là thứ khó chuẩn hoá. Vì vậy mà chất lượng của dịch vụ tuỳ thuộc vào cảm nhận riêng của từng người tiếp nhận và sử dụng dịch vụ.

Dịch vụ lữ hành mang tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng

Cũng như các loại hình dịch vụ khác, quá trình tạo ra dịch vụ gắn liền với quá trình sử dụng tiêu dùng dịch vụ. Khi một chương trình du lịch được thực hiện cũng là lúc khách du lịch tiêu dùng dịch vụ mà Công ty lữ hành cung cấp.

Dịch vụ lữ hành mang tính không chuyển đổi quyền sở hữu

Khách du lịch mua sản phẩm là chương trình du lịch nhưng quá trình tiêu thụ dịch vụ diễn ra, khách du lịch không có quyền sở hữu hàng hoá dịch vụ ( cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích văn hoá,…) mình đã mua mà là sự trải nghiệm các dịch vụ đó.

Dịch vụ lữ hành mang tính không thể di chuyển và không thể cất trữ

Cũng như tính không chuyển quyền sở hữu, khi khách du lịch tiến hành tiêu dùng các dịch vụ du lịch ( tham quan, ngắm cảnh) thì phải đến tận nơi đó chứ không thể chuyển dịch chúng. Quá trình tạo ra và tiêu dùng là không tách rời nhau nên nó có đặc điểm là không thể cất giữ.

Dịch vụ lữ hành mang tính thời vụ cao và luôn biến động

Hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch mang tính thời vụ, có mùa cao đIểm và mùa thấp điểm. Do đặc tính dịch vụ du lịch chỉ phát sinh và được thực hiện khi có nhu cầu và một trong những điều kiện để thực hiện nhu cầu đó là vấn đề thời gian rảnh rỗi của khách du lịch, đIều kiện thời tiết của địa đIểm du lịch. Tính thời vụ trong du lịch tồn tại bởi tác động của tập hợp nhiều nhân tố đa dạng như: các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế- xã hội, nhân tố tổ chức, kỹ thuật, nhân tố tâm lý,…

Tính thời vụ trong du lịch mang tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch. Một nước hoặc một vùng du lịch có thể có một hoặc nhiều thời vụ du lịch và độ dài của thời gian và cường độ của thời vụ là không như nhau đối với các thể loại du lịch khác nhau.

Dịch vụ lữ hành mang tính không đồng nhất

Tính chất này được biểu hiện ở chỗ không giống nhau, không lặp lại về chất lượng ở những chuyến thực hiện khác nhau. Vì chúng được xây dựng dựa trên nhu cầu của các nhóm đối tượng khách hàng và dựa trên các đặc đIểm vốn có của đIểm du lịch cũng như khả năng của Doanh nghiệp lữ hành.

1.3. Kinh doanh lữ hành

1.3.1. Khái niệm

Theo định nghĩa của Tổng Cục Du lịch Việt Nam , “Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch”.

1.3.2. Phân loại kinh doanh lữ hành

Căn cứ vào tính chất của hoạt động để tạo ra sản phẩm : có các loại kinh doanh đại lý lữ hành, kinh doanh chương trình du lịch, kinh doanh tổng hợp.

– Kinh doanh đại lý lữ hành hoạt động chủ yếu là làm dịch vụ trung gian tiêu thụ và bán sản phẩm một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất du lịch để được hưởng hoa hồng theo mức % của giá bán, không làm gia tăng giá trị của sản phẩm trong quá trình chuyển giao từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực tiêu dùng du lịch. Các dịch vụ trung gian chủ yếu của đại lý lữ hành bao gồm: đăng ký đặt chỗ và bán vé máy bay, đăng ký đặt chỗ và bán vé trên các phương tiện khác như: tàu thuỷ, đường sắt, ô tô,…

– Kinh doanh chương trình du lịch hoạt động theo phương thức bán buôn, thực hiện “sản xuất” làm gia tăng giá trị của các sản phẩm đơn lẻ của các nhà cung cấp để bán cho khách. Với hoạt động kinh doanh này chủ thể của nó phải gánh chịu rủi ro, san sẻ rủi ro trong quan hệ với các nhà cung cấp khác. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh chương trình du lịch được gọi là các công ty du lịch lữ hành.Cơ sở của hoạt đồng này là liên kết các sản phẩm mang tính đơn lẻ của các nhà cung cấp độc lập thành sản phẩm mang tính trọn vẹn bán với giá gộp cho khách, đồng thời làm gia tăng giá trị sử dụng của sản phẩm cho người tiêu dùng thông qua sức lao động của các chuyên gia Marketing, đIều hành và hướng dẫn.

– Kinh doanh lữ hành tổng các dịch vụ du lịch, có nghĩa là vừa sản xuất sản xuất từng loại dịch vụ vừa liên kết các dịch vụ thành sản phẩm mang tính nguyên chiếc, vừa thực hiện bán buôn và bán lẻ, vừa thực hiện chương trình đã bán. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành tổng hợp được gọi là các công ty du lịch.

Căn cứ vào phương thức và phạm vi hoạt động: Có các loại hình kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận khách và kinh doanh lữ hành kết hợp:

– Kinh doanh lữ hành gửi khách bao gồm cả gửi khách quốc tế, gửi khách nội địa là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là tổ chức thu hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch. Loại kinh doanh lữ hành này thích hợp với những nơi có cầu du lịch lớn. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh gửi khách được gọi là công ty gửi khách.

– Kinh doanh lữ hành nhận khách bao gồm cả nhận khách quốc tế và nội địa, là loại kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây dựng các chương trình du lịch quan hệ với các công ty lữ hành gửi khách để bán các chương trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách. Loại kinh doanh này phù hợp với những nơi có tàI nguyên du lịch nổi tiếng. Các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành loại này được gọi là công ty nhận khách.

– Kinh doanh lữ hành kết hợp có nghĩa là sự kết hợp giữa kinh doanh lữ hành gửi khách và kinh doanh lữ hành nhận khách. Loại kinh doanh này thích hợp với doanh nghiệp quy mô lớn, có đủ nguồn lực để thực hiện các hoạt động nhận khách và gửi khách. Các doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành kết hợp được gọi là các công ty du lịch tổng hợp.

Căn cứ vào quy định của Luật Du lịch Việt Nam có các loại:

– Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam

– Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch ra nước ngoài

– Kinh doanh lữ hành đối với khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch ra nước ngoài.

– Kinh doanh lữ hành nội địa

Như vậy có thể hiểu kinh doanh lữ hành quốc tế là loại kinh doanh lữ hành mà đối tượng của nó là khách du lịch vào Việt Nam và khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài.  

2. Nội dung cơ bản của kinh doanh lữ hành quốc tế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

2.1. Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

2.1.1. Nghiên cứu thị trường

Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

Nghiên cứu thị trường là hoạt động được tiến hành thường xuyên và có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của công ty lữ hành. Hoạt động nghiên cứu thị trường tập trung vào phân tích nhu cầu tiêu dùng dịch vụ du lịch của khách du lịch trong và ngoài nước cũng như xu hướng thay đổi nhu cầu.

Sau khi xác định được tổng cung, tổng cầu về dịch vụ dự định cung cấp giá cả của dịch vụ,… Doanh nghiệp phải nghiên cứu chi tiết thị trường cụ thể:

– Đối tượng khách hàng là ai?

– Nhu cầu như thế nào?

– Mục đích tiêu dùng dịch vụ là gì?

– Yêu cầu về chất lượng dịch vụ?

– Thời gian và cách thức thực hiện?

Nghiên cứu thị trường của các công ty kinh doanh lữ hành tập trung làm rõ các vấn đề sau:

– Quan hệ tuyến điểm – mục đích chuyến đi:

Mỗi chuyến du lịch thường có những mục đích riêng, như du lịch về văn hoá du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái du lịch MICE,…Cơ sở để xây dựng các tuyến điểm trong tour du lịch chính là việc xác định được mục đích của chuyến đi. Chẳng hạn một chương trình du lịch văn hoá có các tuyến điểm là các di tích lịch sử, các hoạt động văn hoá lễ hội,…Nếu khách du lịch kết hợp nhiều mục đích khác nhau như công vụ với nghỉ dưỡng…thì nội dung của các tuyến điểm cũng đa dạng và phong phú.

– Quan hệ độ dài của tour – quỹ thời gian nhàn rỗi:  

Độ dài của các chương trình du lịch khác nhau và nó thường phụ thuộc vào thời gian nhàn rỗi của khách có thể thực hiện chương trình du lịch.

– Quan hệ thời điểm tổ chức – thời điểm sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi

Thời điểm nghỉ ngơi của khách sẽ ảnh hưởng đến quyết định tổ chức chuyến đi nhưng thời điểm tổ chức chương trình du lịch không phải lúc nào cũng được thực hiện khi khách du lịch nhàn rỗi. Do đặc tính thời vụ phụ thuộc nhiều vào các điều kiện ngoại cảnh ( như thời tiết, khí hậu, thời gian lễ hội,…) nên việc xác định đúng thời điểm sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi sẽ giúp xác định đúng thời điểm cung cấp các chương trình du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch.

– Quan hệ giá cả – khả năng thanh toán

Giá của chương trình du lịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng nó không được vượt quá xa khả năng thanh toán của khách hàng mà công ty nhắm tới bởi nếu không nó sẽ trở thành một nhu cầu không thể thanh toán. Hay nói cách khác, mức giá của một chương trình du lịch phải phù hợp với thu nhập và khả năng chi tiêu cho các nhu cầu vui chơi giải trí du lịch…của đa số khách hàng.

– Quan hệ dịch vụ cung cấp- yêu cầu về chất lượng:

Mỗi một loại khách hàng có những nhu cầu và yêu cầu về chất lượng dịch vụ khác nhau thường thì chất lượng được dựa nhiều trên giá thành. Xác định đúng giá thành mà khách du lịch có thể chấp nhận được chưa thể đảm bảo có thể bán được tour hay không mà phải thực hiện tốt nhất các dịch vụ dự định sẽ cung cấp cho khách khi thực hiện các tour du lịch.

2.1.2. Xây dựng chương trình du lịch

Trước khi đi sâu tìm hiểu hoạt động xây dựng chương trình du lịch được tiến hành như thế nào, ta nên tìm hiểu sơ qua về hệ thống sản phẩm của kinh doanh lữ hành. Hoạt động kinh doanh lữ hành có rất nhiều loại dịch vụ hàng hoá khác nhau nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu đa dạng của khách du lịch. Hoạt động tạo ra dịch vụ và hàng hoá của các nhà kinh doanh lữ hành bao gồm dịch vụ trung gian, chương trình du lịch và các sản phẩm khác.

Dịch vụ trung gian du lịch, hay còn gọi là các dịch vụ đơn lẻ,là loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh lữ hành làm trung gian giới thiệu tiêu thụ sản phẩm cho các nhà cung cấp sản phẩm du lịch để hưởng hoa hồng. Hầu hết các sản phẩm này được tiêu thụ một cách đơn lẻ không có sự gắn kết với nhau thoả mãn độc lập từng nhu cầu của khách. Các dịch vụ đơn lẻ này là: dịch vụ vận chuyển hàng không (đăng ký đặt chỗ bán vé máy bay), đường sắt, ôtô, tàu thuỷ…(đăng ký đặt chỗ bán vé tàu hoả,tàu thuỷ, ô tô…); dịch vụ lưu trú ăn uống ( đăng ký đặt chỗ các dịch vụ trong nhà hàng khách sạn), dịch vụ tiêu thụ chương trình du lịch ( đăng ký đặt chỗ bán vé du lịch), dịch vụ bảo hiểm,dịch vụ tư vấn thiết kế lộ trình, dịch vụ bán vé xem biểu diễn nghệ thuật tham, tham quan, thi đấu thể thao và các sự kiện khác…

Các sản phẩm khác ngoài chương trình du lịch ra là du lịch khuyến thưởng du lịch hội nghị hội thảo, chương trình du học tổ chức các sự kiện văn hoá, xã hội, kinh tế, thể thao lớn…Các loại sản phẩm và dịch vụ khác theo hướng liên kết dọc nhằm phục vụ khách rong một chu trình khép kín.

Thế còn chương trình du lịch là gì?

Hiện nay trong các tài liệu khoa học về du lịch chưa có định nghĩa thống nhất về chương trình du lịch.

Theo những quy định về du lịch lữ hành trọn gói của các nước liên minh châu Âu (EU) và Hiệp hội các hãng lữ hành Vương quốc Anh trong cuốn “kinh doanh du lịch lữ hành”: Chương trình du lịch là sự kết hợp được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ : nơi chốn ở, các dịch vụ khác sinh ra từ dịch vụ giao thông hoặc nơi ăn ở và nó được bán với mức giá gộp và thời gian của chương trình phải nhiều hơn 24h.

Theo nghị định số 27/ 2001/ NĐ-CP về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch ở Việt Nam ban hành ngày 5 tháng 6 năm 2001 định nghĩa: Chương trình du lịch là lịch trình được định trước của chuyến đi du lịch do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức trong đó xác định thời gian chuyến đi nơi đến du lịch, các điểm dừng chân dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch vụ khác và giá bán chương trình.

Theo Luật Du lịch Việt Nam có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, tại mục 13, đIều 4 giải thích từ ngữ : chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi.

Từ các định nghĩa khác nhau về chương trình du lịch ta có thể rút ra nhận xét về sự tương đồng giữa các định nghĩa là đều có sự thống nhất về lịch trình các dịch vụ và giá bán được định trước cho chuyến đi.

Căn cứ vào những tiêu thức khác nhau, chương trình du lịch được phân loại như sau:

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh có 3 loại: Chương trình du lịch chủ động, chương trình du lịch bị động, chương trình du lịch kết hợp.

Căn cứ vào mục đích chuyến du lịch và loại hình du lịch có: Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh; chương trình du lịch theo chuyên đề: văn hoá, lịch sử, phong tục tập quán; chương trình du lịch công cụ MICE (hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm); chương trình du lịch sinh thái,….

Căn cứ vào số lượng khách trong đoàn có các chương trình du lịch quốc tế độc lập cho khách đi lẻ (FIT) và các chương trình trọn gói cho các đoàn (GIT)

Căn cứ vào phạm vi du lịch có các chương trình du lịch quốc tế (FIT) và chương trình du lịch nội địa (DIT)

Vậy quy trình xây dựng một chương trình du lịch diễn ra như thế nào? Tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói là các hoạt động đặc trưng và cơ bản của các doanh nghiệp lữ hành.Các chương trình có nội dung độc đáo, hấp dẫn, có mức giá hợp lý và tính khả thi cao đem lại lợi nhuận và uy tín cho các doanh nghiệp lữ hành. Chính vì lẽ đó, thị trường kinh doanh du lịch trọn gói bao giờ cũng sôi động và khốc liệt. Nhiều công ty đa quốc gia có khả năng lớn về tài chính vẫn phải tuyên bố phá sản sau những mùa vụ du lịch mà họ không tổ chức thực hiện được những chương trình đã quảng cáo. Vì vậy khi xây dựng chương trình du lịch cần phải tuân theo các bước trong quy trình thiết kế chương trình du lịch.

Chương trình du lịch khi được xây dựng phải đảm bảo những yêu cầu chủ yếu như tính khả thi, phù hợp với nhu cầu của thị trường, đáp ứng những mục tiêu của công ty lữ hành, có sức lôi cuốn thúc đẩy khách du lịch ra quyết định mua chương trình. Để đạt được những yêu cầu đó, chương trình du lịch được xây dựng theo quy trình gồm các bước sau đây:

– Nghiên cứu nhu cầu của thị trường (khách du lịch)

– Nghiên cứu khả năng đáp ứng. Tài nguyên, các nhà cung cấp du lịch, mức độ cạnh tranh trên thị trường.

– Xác định khả năng và vị trí của doanh nghiệp lữ hành.

– Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch.

– Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa.

– Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những đIểm du lịch chủ yếu, bắt buộc của chương trình.

– Xây dựng phương án vận chuyển.

– Xây dựng phương án lưu trú, ăn uống.

– Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình. Chi tiết hoá chương trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí.

– Xác định giá thành và giá bán của chương trình.

– Xây dựng những quy định của chương trình du lịch

Cần lưu ý rằng không phải bất cứ khi nào xây dựng một chương trình du lịch trọn gói phải lần lượt trải qua tất cả các bước nói trên.

Nghiên cứu mối quan hệ giữa nhu cầu của khách du lịch với nội dung của chương trình du lịch (bảo đảm thoả mãn mong đợi của khách)

Để nắm bắt được nhu cầu của khách du lịch, người ta thường phải phân đoạn thị trường, lựa chọn các thị trường mục tiêu và tiến hành các hoạt động đIều tra khảo sát và nghiên cứu thị trường. Thông thường các công ty lữ hành thường xác định mong muốn tiêu dùng của thị trường khách du lịch mục tiêu bằng những cách sau đây:

Nghiên cứu tài liệu

Tìm hiểu về thị trường thông qua các công trình nghiên cứu, ý kiến chuyên gia, sách báo, tạp chí, niên giám thống kê…Đây là phương pháp ít tốn kém song đôi khi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và xử lý thông tin, mức độ tin cậy, phù hợp thường không cao. Đây được gọi là nguồn dữ liệu thứ cấp.

Thông qua các doanh nghiệp lữ hành gửi khách và các chuyến du lịch làm quen.

Hai doanh nghiệp lữ hành (gửi khách và nhận khách) sẽ trao đổi các đoàn chuyên gia, đại diện để tìm hiểu thị trường và xác định khả năng của mỗi bên cũng như triển vọng hợp tác. Điển hình là các chuyến du lịch giới thiệu hoặc làm quen (Familiarization trip – Fam trip), doanh nghiệp lữ hành sẽ có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách du lịch, hiểu rõ hơn nhu cầu sở thích của họ. Mặt khác sự trao đổi giữa hai bên sẽ làm cho các ý kiến đưa ra có sức thuyết phục hơn.

Các hình thức khác như khảo sát trực tiếp bằng cách phỏng vấn, phiếu trưng cầu ý kiến, thuê các công ty marketing…

Hình thức này có thể đạt hiệu quả cao, song chi phí thường khá lớn.Hai hình thức này còn được gọi là thu thập dữ liệu sơ cấp.

Nội dung của tiêu dùng du lịch khá phong phú và đa dạng. Tuy vậy, cũng có thể khái quát vào các tiêu chí lớn sau đây:

– Động cơ, mục đích chuyến của khách.

– Khả năng thanh toán nói chung và khả năng chi tiêu trong du lịch của du khách.

– Thói quen sử dụng, thị hiếu thẩm mỹ và yêu cầu về chất lượng của các dịch vụ vận chuyển, lưu trú.

– Các chỉ tiêu về thời gian dành cho du lịch, những thời đIểm mà khách có thể đI du lịch.

– Các nội dung khác như tần số đi du lịch, thời gian trung bình cho một chuyến du lịch, các tuyến điểm du lịch ưa thích…

Xác định giá thành, giá bán và các quy định của một chương trình du lịch

Xác định giá thành của một chương trình du lịch

Giá thành của chương trình bao gồm toàn bộ những chi phí trực tiếp mà công ty lữ hành phải chi trả cho một lần (chuyến) thực hiện chương trình du lịch.  

Nếu các chi phí này tính cho một khách thì gọi là giá thành cho một lần thực hiện chương trình du lịch.

Giá thành = CFCĐ + CFBĐ/N

Trong đó: N= số lượng khách

CFCĐ: chi phí cố định là tất cả chi phí cần cho một chương trình du lịch mà giá trị của chúng không phụ thuộc một cách tương đối vào số lượng khách.

CFBĐ: chi phí biến đổi là tất cả chi phí cần cho một chương trình du lịch mà giá trị của chúng phụ thuộc một cách tương đối vào số lượng khách. Đây là các chi phí liên quan trực tiếp đến tiêu dùng của từng loại khách du lịch riêng biệt.

Giá bán của một chương trình du lịch mà một doanh nghiệp lữ hành đưa ra phụ thuộc vào những yếu tố như:

Mức giá phổ biến trên thị trường, vai trò, khả năng và mục tiêu của doanh nghiệp.

(G = z + P + Ck + T)

Giá bán = Giá thành + Lợi nhuận dự kiến + Chi phí bán + Chi phí khác + Thuế

2.1.3. Tổ chức xúc tiến hỗn hợp chương trình du lịch

– Khái niệm xúc tiến hỗn hợp

Thực chất của xúc tiến hỗn hợp là quá trình kết hợp truyền thông trong kinh doanh chương trình du lịch, nhằm mục đích truyền tin về sản phẩm là các chương trình du lịch cho người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu. Một mặt giúp cho họ nhận thức được các chương trình du lịch của doanh nghiệp. Mặt khác dẫn dụ, thu hút quyến rũ người tiêu dùng mục tiêu mua sản phẩm của doanh nghiệp và trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp. Hoạt động xúc tiến hỗn hợp bao gồm: quảng cáo (advertising), tuyên truyền và quan hệ công chúng (publicity and public relations), thúc đẩy tiêu thụ (sales promotion), chào hàng trực tiếp (direct marketing). Việc lựa chọn các hoạt động xúc tiến hỗn hợp phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng sau đây: bản chất, đặc điểm của từng loại chương trình du lịch mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, mục tiêu mà tham vọng truyền thông hướng tới, các giai đoạn trong chu kỳ sống sản phẩm (tính thời vụ du lịch), tình huống mà doanh nghiệp phải đối mặt và xác định vị trí của mình trên thị trường mục tiêu, ngân quỹ có thể dành cho hoạt động xúc tiến hỗn hợp.

–  Hoạt động quảng cáo chương trình du lịch

Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của du khách đối với các sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành. Các sản phẩm quảng cáo phải tạo ra sự phù hợp giữa các chương trình du lịch với nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của khách du lịch.

Khi quảng cáo cho các chương trình du lịch trọn gói, các công ty lữ hành thường áp dụng các hình thức quảng cáo sau đây:

+ Quảng cáo bằng các ấn phẩm như tập gấp (handout), tập sách mỏng, áp phích…

+ Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, tạp chí, truyền hình và truyền thanh, thư điện tử, hoặc bằng các trang website…

+ Các hoạt động khuyếch trương như tổ chức các buổi tối quảng cáo, tham gia các hội chợ…

+ Quảng cáo trực tiếp : gửi các sản phẩm quảng cáo đến tận nơI ở (địa chỉ) của khách du lịch.

+ Các hình thức khác: băng video, phim quảng cáo…

– Hoạt động tuyên truyền và quan hệ công chúng (publicity and public relations)

Hoạt động tuyên truyền là việc tác động một cách gián tiếp nhằm khơi dậy nhu cầu du lịch hay làm tăng uy tín của doanh nghiệp lữ hành bằng cách đưa ra những thông tin về điểm tuyến du lịch mới thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng( báo hình, báo nói, báo viết, báo đIện tử) với sự hỗ trợ của các phóng viên.

Trong khi kinh doanh lữ hành hiện đại, tuyên truyền là một hình thức rất quan trọng để doanh nghiệp lữ hành đạt được mục tiêu của mình. Thông qua các hình thức tuyên truyền doanh nghiệp lữ hành có thể đạt được những mục tiêu:

Thứ nhất, tạo ra sự biết đến dịch vụ du lịch mới (điểm đến, tổ chức, con người và ý tưởng)

Thứ hai, tạo dựng uy tín bởi được nhiều người biết đến thông qua các trang báo.

Thứ ba, tạo điều kiện tốt cho người bán hàng và các kênh phân phối chương trình du lịch của doanh nghiệp tiêu thụ được nhiều sản phẩm.

Thứ tư, hình thức tuyên truyền thường có chi phí thấp hơn chi phí quảng cáo. Các hình thức tuyên truyền mà doanh nghiệp có thể áp dụng là: xuất bản ấn phẩm, tổ chức các sự kiện đặc biệt, cung cấp thông tin cho các nhà báo tham gia trả lời phỏng vấn, thuyết trình, tham gia vào các hoạt động xã hội- từ thiện và xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp.

– Hoạt động khuyến khích thúc đẩy tiêu thụ và khuyến mại.

Hoạt động khuyến khích thúc đẩy tiêu thụ ( người bán chương trình du lịch) là việc sử dụng các biện pháp kích thích trực tiếp vào đội ngũ bán chương trình du lịch của các đại lý lữ hành, các doanh nghiệp lữ hành, nhằm tạo động lực cho người bán hàng tích cực chủ động đẩy nhanh tiến độ bán các chương trình du lịch. Các hình thức khuyến mãi mà các doanh nghiệp lữ hành có thể áp dụng là tăng mức hoa hồng cơ bản, hoa hồng thưởng,…tạo điều kiện thuận lợi và các chính sách ưu đãi cho nhân viên và các đại lý,…

Hoạt động khuyến mãi ( kích thích khách du lịch) là việc sử dụng các biện pháp, hình thức kích thích trực tiếp vào khách du lịch, (người tiêu dùng cuối cùng) làm cho khách sẵn sàng mua chương trình du lịch. Các biện pháp, hình thức cơ bản nhất có thể áp dụng là tặng quà, tham gia các cuộc thi, phiếu mua chương trình, phiếu lĩnh thưởng, nhận hoàn trả tiền, bán theo giá ưu đãi,…

Để tiến hành hoạt động khuyến mãi, nhà quản lý cần xác định rõ: cường độ kích thích, điều kiện tham gia, các phương tiện phổ biến về chương trình kích thích, thời gian kéo dài của chương trình kích thích, lựa chọn thời gian để thực hiện, ngân sách cho việc kích thích người bán và người mua.

Chào bán chương trình du lịch trực tiếp

Hoạt động chào bán chương trình du lịch trực tiếp là sử dụng các biện pháp, hình thức tiếp cận đến tận địa chỉ của khách du lịch. Các biện pháp, hình thức mà doanh nghiệp thường sử dụng là : gửi chương trình du lịch, giá của chương trình du lịch và các hình thức đăng ký qua đường bưu điện, qua điện thoại, truyền hình…

2.1.4. Tổ chức bán các chương trình du lịch trọn gói

Khi xây dựng các chương trình du lịch, các doanh nghiệp lữ hành thường đã xác định các thị trường mục tiêu chủ yếu cho sản phẩm của mình. Theo đánh giá và kết quả nghiên cứu sơ bộ thì nguồn khách du lịch quốc tế tại thị trường du lịch Việt Nam bao gồm:

– Các doanh nghiệp lữ hành gửi khách và nhận khách trong nước và quốc tế.

– Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam

– Các doanh nghiệp có liên doanh hoặc quan hệ kinh doanh với nước ngoài

– Các mối quan hệ cá nhân của cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp với khách du lịch quốc tế.

– Các đối tượng khách đi lẻ

– Khách quá cảnh

Đây là một trong những giai đoạn cơ bản nhất và đóng vai trò quyết định để đạt được mục đích kinh doanh chương trình du lịch của doanh nghiệp lữ hành. Vì vậy cần lựa chọn được các phương pháp và các phương tiện tối ưu nhằm tiêu thụ được khối lượng sản phẩm tối đa với chi phí tối thiểu. Giai đoạn này bao gồm các công việc chính như lựa chọn kênh tiêu thụ và quản lý các kênh tiêu thụ chương trình du lịch. Doanh nghiệp lữ hành có thể lựa chọn kênh phân phối trực tiếp là bán sản phẩm chương trình du lịch trực tiếp với du khách trực tiếp hoặc qua chi nhánh văn phòng đại diện của mình. Doanh nghiệp lữ hành cũng có thể lựa chọn các kênh phân phối gián tiếp thông qua các đại lý du lịch bán buôn, đại lý du lịch bán lẻ và các trung tâm lữ hành khác.Sau khi tour được bán và được cung cấp cho khách hàng thì kết thúc các tour, công ty đánh giá sự thoả mãn của khách hàng, xử lý phàn nàn, viết thư thăm hỏi và duy trì mối quan hệ với khách hàng.

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế

2.2.1 Các nhân tố khách quan

Kinh doanh lữ hành gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng bên ngoài. Những nhân tố này có thể tạo nên những cơ hội, những thách thức cũng như mang lại những rủi ro nhất định. Các nhân tố khách quan tác động đến hoạt động kinh doanh lữ hành là:

– Môi trường văn hoá – xã hội

Bao gồm các yếu tố như: dân số, thu nhập và phân bố thu nhập, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hoá,…Yếu tố văn hoá- xã hội luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình ra quyết định mua của khách hàng.

– Môi trường chính trị luật pháp

Bao gồm: quan điểm, mục tiêu, định hướng của nhà nước, chính phủ, sự ổn định về chính trị- xã hội, hệ thống luật pháp và mức độ hoàn thiện của hệ thống luật pháp,…Môi trường chính trị luật pháp có tác dụng thúc đẩy hỗ trợ hoặc ngược lại làm kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp.

– Môi trường cạnh tranh

Doanh nghiệp cần xác định rõ khả năng cạnh tranh cũng như đối thủ cạnh tranh của mình để xây dựng được một chiến lược cạnh tranh hoàn hảo nhằm tối đa hoá mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.

– Môi trường địa lí – sinh thái

Hoạt động du lịch liên quan trực tiếp đến môi trường địa lí- sinh tháI như : điều kiện về tự nhiên, khí hậu, tính thời vụ của dịch vụ du lịch. Bên cạnh đó, vấn đề về sinh thái, ô nhiễm môi trường cũng liên quan đến khả năng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

2.2.2. Các nhân tố chủ quan

Các nhân tố chủ quan hay chính là môi trường bên trong doanh nghiệp. Để có thể khai thác tốt nhất những thời cơ và hạn chế ở mức thấp nhất những rủi ro, nhà quản lý cần thiết phải vận dụng sức mạnh tối đa và khắc phục những đIểm yếu của chính bản thân doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố tạo nên sức mạnh của các doanh nghiệp lữ hành, đó là:

– Tiềm lực tài chính: tiềm lực tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cung cấp một cách đa dạng các dịch vụ để thoả mãn một cách tốt nhất các nhu cầu của khách du lịch, tăng khả năng cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.

– Tiềm lực con người: yếu tố con người là yếu tố then chốt tạo nên hiệu quả kinh doanh, đặc biệt là trong dịch vụ lữ hành. Yếu tố con người bao gồm: trình độ chuyên môn, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm, sự trung thành,…Yếu tố con người cũng được thể hiện ở trình độ tổ chức và quản lí: đó là khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, tổ chức và đIều hành của các cán bộ quản lí trong doanh nghiệp, là điều kiện quyết định đến hiệu quả kinh doanh và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.

– Tiềm lực vô hình: tiềm lực vô hình là kết quả lâu dài trong việc xây dựng hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Nó như thứ tài sản vô hình ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định lựa chọn sản phẩm của khách du lịch.

– Vị trí địa lý, cơ sở vật chất của doanh nghiệp

Các yếu tố này thể hiện quy mô, vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. Vị trí địa lí được coi là một thứ tài sản vô hình của doanh nghiệp, là một lợi thế giúp doanh nghiệp khai thác và thoả mãn tốt hơn các nhu cầu của khách hàng. Cơ sở vật chất kỹ thuật là các trang thiết bị và công nghệ để hỗ trợ các hoạt động của doanh nghiệp.

3. Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Văn Đính – Phạm Hồng Chương (2000), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB Thống kê, Hà Nội.
  2. Nguyễn Văn Mạnh – Phạm Hồng Chương (2006), Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
  3. Tổng cục du lịch Việt Nam ( 1997), Hệ thống các văn bản hiện hành về quản lý du lịch, , NXB Chính trị Quốc gia.
  4. Tổng cục du lịch Việt Nam, Những văn bản liên quan về quản lí và kinh doanh lữ hành ở Việt Nam.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*
*